Trang Tử có lần nói chuyện gió: gió không cố thổi, nhưng hễ có lỗ rỗng thì nó kêu. Lỗ lớn kêu lớn, lỗ nhỏ kêu nhỏ. Kẻ nghe tiếng lại tưởng gió “có ý”. Kỳ thực, chỉ là rỗng gặp duyên.
Lậu tận minh cũng thế.
“Lậu” là chỗ rỉ của tâm. Như chum nước có vết nứt: nước chưa kịp đầy đã chảy đi. Người chưa thấy vết nứt thì loay hoay múc thêm, càng múc càng cạn. Trong đời, vết rỉ ấy mang tên: dục, hữu, kiến, vô minh — ham muốn, bám được, chấp đúng sai, và mù mờ.
Còn “minh” là sáng biết. Không phải sáng vì học nhiều, mà sáng như người đứng yên nhìn dòng nước: thấy nó chảy, thấy nó đục, thấy chỗ xoáy, thấy chỗ lặng.
Vậy lậu tận minh là gì?
Là khi người ấy thấy tận gốc cái rỉ, và nó hết rỉ. Không phải “đè” cho nó im, không phải “đổi” bằng một thói quen mới, mà là biết đúng như thật đến mức cái gốc không còn chỗ bám. Khi gốc hết bám, rỉ tự dứt.
Ngày thường, vừa có “xúc” liền sinh “thọ”; vừa có “thọ” liền kéo “ái”; “ái” sinh “thủ”; “thủ” dựng “ta” và “của ta”; rồi “hữu” quay bánh xe khổ. Người chưa sáng bị chuỗi ấy dắt đi như trâu kéo cày.
Nhưng người có lậu tận minh thì khác:
Xúc vẫn đến, thọ vẫn hiện — như gió vẫn thổi qua rừng.
Chỉ là không còn ai lấy tiếng gió làm chuyện của mình.
Thọ khởi mà không thành ái; ái không thành thủ; thủ không dựng ngã.
Cái rỉ cạn vì không còn cửa.
Nên mới có lời tự biết của bậc đã xong việc:
“Việc cần làm đã làm.”
Không phải vì đời hết sóng, mà vì tâm không còn chỗ thủng.
Sóng đến thì biết sóng; sóng đi thì biết đi.
Không còn cái “ta” đứng sau lưng sóng để bị cuốn.
Nếu muốn nói theo lối Trang:
Lậu tận minh là cái biết của người trở về rỗng.
Rỗng nên không mắc; không mắc nên không rỉ; không rỉ nên an nhiên.
An nhiên không phải trốn đời, mà là đi giữa đời mà không bị đời làm chảy mất mình.











